Followers

Monday, October 4, 2010

Về Phù Lãng...

Chủ nhật vừa rồi, 3-10, mình về lại thăm quê Phù Lãng nhân dịp ông anh họ tân gia. Cứ tưởng lần mới về cách đây 2 năm vậy mà đã hơn 3 năm rưỡi. Đây là một vài bức ảnh:

 

Các sản phẩm gốm nghệ thuật hiện đại (cái này mới có gần đây sau khi làng nghề được phục hồi):

Công đoạn vẽ màu:

Công đoạn 'chuốt' tạo hình trên bàn xoay, để quay bàn xoay dùng chân để đạp (nhìn cái cẳng chân kìa):

Sản phẩm truyền thống- chum, vại sành (ngày xưa dân Phù Lãng chất lên xe đạp thồ đi đến các vùng để đổi trực tiếp chum-vại lấy thóc, ngô, khoai, sắn...

Các chồng gỗ để đốt lò được xếp ngay ngắn, một hình ảnh đặc trưng có từ lâu:

Chùa Phù Lãng, tên tự Phúc Long mới được xây dựng lại ( dưới sự công đức của một vị cựu Đại tướng người làng); vị sư chủ trì chùa đã 104 tuổi:

Tiểu sành- một sản phẩm truyền thống cùng với chum, vại sành...

Những mái nhà cổ lợp ngói ta ( nhưng bên trong cột, kèo, dui, mè...toàn bằng gỗ) phổ biến của Phù Lãng, giờ đó tìm được bụi tre nào...:

 Post lại bài này từ hồi YH!360:

Phù Lãng - quê của Bà Ngoại tôi, nơi tôi cũng đã có nhiều kỷ niệm của thuở ấu thơ, những ngày nghỉ hè. Vậy mà cũng đã vài chục năm mới trở lại.

Một cuốc taxi khoảng 1.15' từ Hà nội về đến Phù Lãng, đường xá tốt kết quả của PMU 18. Sau khi được chỉ dẫn, tôi vẫn nhận ra được khu đất sát mép sông Cầu, nhà của Bà Ngoại tôi ( giờ đã nhượng lại cho người khác ). Nhà cửa xây nhiều hơn nhưng không cảm thấy to và khang trang như thuở trước. Sông Cầu giờ đây dường như cũng nhỏ đi. Có một thời, dân Phù Lãng không chịu nổi cảnh lụt lội hàng năm do vốn dĩ làng nằm ngoài đê nên dân chúng đã phải bỏ làng để di chuyển lên vùng đồi cao hơn ngoài đê. Nay nhờ có thuỷ điện sông Đà nên bớt cảnh lụt lội, mọi người lại kéo nhau về làng, xây dựng lại nhà cửa. Vẫn là cảnh chum sành, vại sành, tiểu sành...những sản phẩm đặc trưng của gốm Phù Lãng được xếp thành chồng như thuở nào nhưng hình như không phong phú bằng...Gốm Phù Lãng bây giờ đã được nâng cấp một bước khi có thêm sản phẩm gốm mỹ nghệ nhưng dường như chất lam lũ vẫn đầy ắp trong các sản phẩm gốm.

Liên tưởng câu thơ của nhà thơ Tế Hanh: " Quê hương tôi có con sông xanh biếc/ Nước gương trong soi tóc những hàng tre...". Vẫn nhớ bên phải nhà Bà Ngoại là một bến nước nhỏ và ở đó có một bụi tre ( bây giờ không còn nữa) và bên trái nhà Bà là một bến nước to mà thuở đó trẻ con thường ra đó bơi lội. Cạnh bến nước này chính là lò gốm của nhà Bà, một lò gốm to chạy dài xuống gần bến sông, thuận lợi cho việc vận chuyển đất sét, củi... cũng như các sản phẩm gốm . " Ngày ấy đâu rồi...!".

Điểm nhấn của Phù Lãng bây giờ chính là ngôi chùa Phù Lãng rất khang trang vừa được xây cất lại và tư dinh của một vị Đại tướng vừa nghỉ hưu. Thế mới thấy các Cụ xưa nói cấm có sai câu nào: " một người làm quan cả họ ( mà ở đây là cả làng ) đựơc nhờ".

Một bữa cỗ quê và rượu ' cuốc lủi ' ngon tuyệt. Dường như mọi người cũng đều mừng và vui vì sự có mặt của tôi... Phù Lãng đang tìm lại chính mình, tìm lại sự sầm uất 'trên bến dưới thuyền' thuở nào nhưng hình như cũng còn xa lắm. " Bao giờ cho đến... ngày xưa..." !

Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội... (NĐT)

Sunday, October 3, 2010

Vài tấm ảnh Hà Nội xưa...

Sưu tầm trên mạng có mấy tấm hình Hà Nội chắc thuở đầu thế kỷ 20, thấy rõ ràng HN thời đó có phong cách và được khai hóa hẳn hoi. Tiếc là đã bị mất đi!

 Hà Nội từng có phiên bản bức tượng Nữ thần Tự do hay còn gọi là tượng Đầm xòe(bằng 1/16 bức tượng ở Mỹ) đặt trên nóc tháp Rùa giữa hồ Gươm. Sau đó, tượng được đặt ở vườn hoa Cửa Nam, đến năm 1945 bức tượng bị dỡ khỏi vườn hoa này.

 

Nhà đấu xảo (trung tâm thương mại một thời), nay là Cung văn hóa Hữu nghị.

Tượng đài Paul Bert nằm ở vườn hoa Lý Thái Tổ hiện nay

Bờ hồ Gươm với những cây cọ:

Tượng đài La France từng đặt ở Dinh toàn quyền, nay là Phủ chủ tịch

 

 

Vườn hoa Canh nông, nay là công viên Lê Nin trên đường Trần Phú.

 

Trước cửa Nhà hát Lớn Hà Nội cũng từng có một tượng đài phun nước khá lớn

 

 

 

 

THƯ BỌ LẬP GỬI TRỊNH VĂN SƠN

Bài này của Bọ Lập - Nguyễn Quang Lập, viết quá hay về cái bộ phim vong bản - LCU- Đường tới thành Thăng Long nên cop về tham khảo:

Hà Nội ngày 30 tháng 9 năm 2010

Lâu nay thấy bà con la lối về bộ phim Đường tới thành Thăng Long tôi vẫn im lặng, không dám lên tiếng. Phần vì thấy người ta nói thế cũng đã hết nhẽ rồi, phần vì cũng có hành nghề điện ảnh, cũng có viết kịch bản phim lịch sử, cũng đã từng tham gia dự án điện ảnh Ngàn năm… nên mở miệng khó quá. Những người cùng nghề mới hiểu nỗi vất vả cay cực của điện ảnh Việt Nam. Để có một mét phim người ta phải đổ mồ hôi, sôi giọt máu chứ chả phải cứ đổ tiền ra là có phim đâu. Cho nên bác nói bác buồn vì phim chưa được cấp phép là bác nói rất thật lòng, chẳng phải chỉ buồn đâu, đau nữa bác ạ.

Nhưng nếu bác bình tĩnh nghĩ lại thì thấy giả sử phim ấy được cấp phép thì càng buồn đau hơn, lần này không chỉ mình bác buồn đau mà cả một dân tộc.

Trước hết nó là vấn đề nhạy cảm. Bác cũng biết sau chiến công đả Tống của Lê Hoàn là chiến công đả Tống rực rỡ của Lý Thường Kiệt, thời Lý đã mở ra một thiên niên kỉ vệ quốc thắng lợi. Một bộ phim làm về thời kì lịch sử vẻ vang đó lại giao cho Trung Quốc làm thì khó ai hiểu nổi và chấp nhận được. Bác nói phía Trung Quốc chỉ tham gia trong những công đoạn Việt Nam không thể đảm đương. Tôi tin khi xem xong 19 tập phim thì bác sẽ không thể chứng minh nổi trước những người cùng nghề công đoạn nào là do Việt Nam làm hoàn toàn. Không ai nói một phim Kịch bản Trung Quốc, đạo diễn Trung Quốc, bối cảnh Trung Quốc, trang phục Trung Quốc là phim Việt Nam cả bác ạ. Làm phim không phải làm bảo tàng nhưng phim lịch sử Việt thì không thể nhuốm màu văn hóa Trung Quốc, bác đừng có cãi chày cãi cối. Trong lĩnh vực điện ảnh, Trung Quốc rất giỏi, họ hơn hẳn ta một cái đầu, cứ nói thế cho nó nhanh. Nhưng Trung Quốc là Trung Quốc, ta là ta. Không thể làm phim việt Nam bằng phong cách Trung Quốc được cho dù đó là một phong cách rất đáng nể.

Bác nói mọi người mới xem trailer đã vội kêu, tôi thì sợ rằng khi xem xong 19 tập phim người ta sẽ đập nát đài truyền hình và hãng phim của bác. Câu hỏi đặt ra là lịch sử vệ quốc Việt đã được diễn đạt như thế nào dưới bàn tay Trung Quốc? Các nghệ sĩ Trung Quốc họ cũng yêu Tổ quốc của họ chứ, họ không thể vì đồng tiền để có thể làm nhục Tổ quốc họ được, trong khi lịch sử nghìn năm xâm lăng của Trung Quốc, ở thời kì nào cũng vậy rốt cuộc họ là kẻ chiến bại.

Nhiều người sợ các nhà làm phim Trung Quốc không hiểu gì lịch sử Việt, tôi thì ngược lại, tôi sợ họ quá hiểu lịch sử Việt Nam, và bằng một ngón nghề cao thủ họ dễ dàng biến cái phim này thành phim vỏ Việt Nam chất Trung quốc cả lịch sử lẫn văn hoá. Không biết bác xem phim Bác Hồ ở Hồng Kông chưa. Phim ấy sự hợp tác Trung – Việt là sòng phẳng không ai chỉ đạo ai. Thế mà khi xem xong tôi và Trần Đăng Khoa ngồi đắng ngắt, phục vô cùng những ngón nghề thâm hiểm của họ. Một bộ phim có vẻ như ca ngợi Bác kì thực là sự kể công của Trung Quốc. Tên phim tiếng ta là Bác Hồ ở Hồng Kông, tiếng Tàu là Đào tẩu khỏi Hồng Kông. Ngay cả tên phim ta cũng không giữ nỗi làm sao bác có thể độc lập ở một công đoạn nào?

Bộ phim này là chuyện nhỏ, 200 tỉ dù lớn lắm nhưng cũng chỉ là chuyện nhỏ, sở dĩ dân chúng um xùm cả mấy tháng nay vì sự tồn vong văn hoá Việt. Mất Hoàng Sa quả thật rất đau nhưng không đáng lo vì ta biết cái sự mất, trước sau ta cũng đòi lại được. Nhưng đánh mất bản sắc văn hoá mới nguy hiểm, vì ít ai nhận ra, nó thấm dần từng tí một cho đến khi nó đổi màu hoàn toàn. Khi đó ta mất mà ta lại mừng vui là ta đang được, đau lắm bác ơi.

Vì lẽ đó tôi muốn gửi đến bác lời tâm niệm này: Thôi đừng tiếc phim đó nữa, hãy vất nó đi, làm cái khác bác ạ. Miễn sao còn non còn nước còn người, còn văn hoá Việt thì bác lại có những phim hoành tráng khác, chẳng lo gì.

Kính bác